Công ty cổ phần Bệnh Viện Quốc Tế Vinh

Địa chỉ: Số 99 đường Phạm Đình Toái, xã Nghi Phú, TP. Vinh, Tỉnh Nghệ An

Điện thoại: 023 8396 8888     Email: contactus.vinh@hoanmy.com

Những thay đổi về giải phẫu, sinh lý trong quá trình mang thai liên quan đến gây mê toàn thân | Bệnh viện Quốc Tế Vinh

Những thay đổi về giải phẫu, sinh lý trong quá trình mang thai liên quan đến gây mê toàn thân

31-10-2020

1.    Hệ hô hấp
-    Do tăng cân, tăng kích thước vú làm khó khăn cho tối ưu tư thế đầu và cổ khi đặt nội khí quản (NKQ), làm giảm không gian để mở hàm dưới và đưa đèn soi thanh quản vào. Tư thế nghiêng trái cũng làm cản trở việc đặt tư thế tối ưu khi quản lý đường thở.
-    Giãn mao mạch, ứ nước làm xung huyết và phù nề đường hô hấp, dẫn đến giảm đường kính hầu họng, thanh quản, khí quản. Tăng nguy cơ chấn thương, chảy máu và tắc nghẽn đường hô hấp trên, nguy cơ đặt NKQ khó, thông khí khó. Nên soi thanh quản nhẹ nhàng và đặt ống nội khí quản nhỏ hơn (6,5 – 7 mm). Chuẩn bị sẵn phương án cho tình huống đặt nội khí quản thất bại.
-    Hiện tượng xung huyết và phát triển polyp ở mũi lúc mang thai làm tăng nguy cơ chảy máu khi đặt các dụng cụ qua đường mũi hoặc nội soi phế quản đường mũi.
-    Truyền dịch, truyền oxytoxin là thuốc tăng co tử cung, sản phụ gắng sức trong quá trình chuyển dạ làm giảm diện tích khoang miệng hầu, tăng độ khó khi đặt ống nội khí quản. Nên đánh giá kĩ các thay đổi sinh lí liên quan đến đặt nội khí quản ở sản phụ được gây mê toàn thân khi đã có chuyển dạ. Bệnh lý tiền sản giật cũng làm tăng độ khó của thông khí đường thở do tăng giữ nước, phù nề, tăng chảy máu do rối loạn đông máu. 
-    Tiêu thụ oxy tăng, có thể tăng đến 50% khi thai đủ tháng kết hợp với giảm các loại thể tích chứa khí phổi ở 50% sản phụ nằm ngửa nên sản phụ thiếu oxy nhanh khi ngưng thở.


2.    Hệ tim mạch
Lượng máu tim bơm ra tăng lên 40% do tăng tần số tim 20% và tăng thể tích tống máu mỗi lần tim bóp 30%. Thể tích máu trong hệ tuần hoàn tăng lên 1000 - 1500 mL, tổng lượng máu đạt 90 mL/kg cho phép sản phụ chịu đựng được mất máu liên quan đến quá trình sinh. Lượng máu mất trung bình khi sinh đường âm đạo là 400 - 500 mL, phẫu thuật lấy thai (PTLT) là 800 - 1000 mL.
Thể tích huyết tương tăng 50%, vượt quá sự tăng khối lượng hồng cầu (25%) dẫn đến thiếu máu do pha loãng và giảm độ nhớt của máu. Nguy cơ phù phổi cấp sau phẫu thuật lấy thai do tăng thể tích huyết tương, truyền dịch quá nhiều, co tử cung dồn máu vào tuần hoàn hệ thống, hết chèn ép động -  tĩnh mạch (TM) chủ dưới do tử cung mang thai.
Giảm lượng máu  tim bơm ra có thể xảy ra trong tư thế nằm ngửa từ tuần 20 của thai kỳ do tử cung chèn ép TM chủ dưới làm giảm lượng máu trở về tim. Khoảng 5% phụ nữ xuất hiện hội chứng hạ huyết áp (HA) khi nằm ngửa (chèn động mạch, tĩnh mạch chủ dưới) đặc trưng bởi hạ HA, da tái nhợt, đổ mồ hôi, buồn nôn và nôn. Nguyên nhân của hội chứng này là do tắc nghẽn hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn TM chủ dưới do tử cung chèn. Khi kết hợp với hạ HA do gây tê vùng hoặc gây mê toàn thân, chèn ép động TM chủ có thể gây thiếu máu thai nhi. Phòng ngừa hội chứng này bằng cách đặt tư thế nghiêng trái hoặc đặt một gối chêm (10 - 15°) dưới hông phải.
Mang thai có giảm thụ thể adrenergic nên giảm đáp ứng với thuốc vận mạch. Điều trị hạ HA cần liều thuốc vận mạch (ví dụ phenylephrin) cao hơn so với người bệnh không mang thai.

3.    Hệ thần kinh trung ương
 Nghiên cứu cho thấy sản phụ đang trong quá trình chuyển dạ cần liều thuốc mê sevofluran để đạt độ mê thấp hơn so với sản phụ chưa chuyển dạ. 
4.    Hệ tiêu hóa
Tử cung đẩy dạ dày lên trên và ra trước kết hợp với tác dụng của nội tiết progesteron làm giảm trương lực cơ thắt dưới thực quản. Giảm nhu động thực quản và đường ruột do progesteron ức chế hoạt động co bóp của đường tiêu hóa. Đau khi chuyển dạ và sử dụng thuốc họ opioid gây chậm làm rỗng dạ dày và giảm nhu động dạ dày. Tất cả các yếu tố trên làm tăng nguy cơ bị trào ngược dạ dày - thực quản và hít sặc phổi. Nên sử dụng thuốc kháng acid nếu được trước gây mê toàn thân.
5.    Thuốc qua nhau thai
Thuốc mê hơi tan trong lipid và có trọng lượng phân tử thấp vì vậy di chuyển nhanh qua nhau thai dễ dàng. Tuy nhiên, các thuốc ít gây ức chế thai nhi khi gây mê ở nồng độ < 1MAC, và lấy thai dưới 10 phút từ khi khởi mê.
Thuốc giãn cơ tỉ lệ ở dạng ion hoá cao, nên ít qua nhau thai nên ít tác dụng lên thai nhi.
Tất cả các thuốc họ opioid qua nhau thai và có thể gây ra suy hô hấp ở trẻ sơ sinh. Vì vậy, không dùng opioid khi khởi mê trừ trường hợp đặc biệt.
Do đó yêu cầu thời gian khởi mê - rạch da < 3 phút, thời gian khởi mê - lấy thai < 10 phút và thời gian rạch tử cung - lấy thai < 90 giây trong gây mê toàn thân cho phẫu thuật lấy thai. Để rút ngắn thời gian khởi mê - lấy thai, chỉ tiến hành gây mê khi mọi việc đã được chuẩn bị sẵn sàng rạch vết mổ.