Công ty cổ phần Bệnh Viện Quốc Tế Vinh

Địa chỉ: Số 99 đường Phạm Đình Toái, xã Nghi Phú, TP. Vinh, Tỉnh Nghệ An

Điện thoại: 023 8396 8888     Email: contactus.vinh@hoanmy.com

Những điều cần biết về Ung thư cổ tử cung | Bệnh viện Quốc Tế Vinh

Những điều cần biết về Ung thư cổ tử cung

01-02-2021

Ung thư cổ tử cung là gì? 

Ung thư cổ tử cung là bệnh lý ác tính của cổ tử cung, thường gặp ở những phụ nữ trên 30 tuổi, xếp thứ 2 sau ung thư vú về tỷ lệ mắc cũng như tỷ lệ tử vong.
Theo số liệu của GLOBOCAN 2018, ước tính có 570.000 người mắc ung thư cổ tử cung/ năm và 311.000 người tử vong/ năm do bệnh lí này. Tại Việt Nam, trung bình có tới 4.177 phụ nữ được chẩn đoán mắc mới ung thư cổ tử cung, là ung thư phổ biến thứ 3 ở những phụ nữ từ 15 - 44 tuổi.

Triệu chứng ung thư cổ tử cung 

Ở giai đoạn sớm, triệu chứng của ung thư cổ tử cung thường không có biểu hiện rõ ràng. Ở giai đoạn muộn, người phụ nữ có thể tới khám vì các triệu chứng như:
-    Ra máu âm đạo bất thường giữa kì kinh hay sau quan hệ.
-    Khí hư hôi lẫn máu.
-    Đặt mỏ vịt có thể thấy cổ tử cung sùi, bở, dễ chảy máu khi chạm vào .
-    Nếu muộn hơn có thể thấy Cổ tử cung biến dạng, loét sâu ăn lan vào cùng đồ và thành âm đạo, chèn ép các cơ quan xung quanh gây ra đau bụng vùng chậu - hạ vị, chèn ép vào niệu quản gây ra bí tiểu, chèn ép vào trực tràng gây ra táo bón...
Các loại ung thư cổ tử cung thường gặp nhất là ung thư biểu mô látung thư biểu mô tuyến. Trong đó, khoảng 95% trường hợp ung thư cổ tử cung là ung thư biểu mô lát. Ung thư biểu mô tuyến chiếm tỷ lệ 5%, tuy nhiên, hiện nay, tỷ lệ này có xu hướng tăng lên, khoảng 10-15%.

Nguyên nhân của ung thư cổ tử cung

Cho tới hiện nay, nhiễm các type HPV kéo dài được chứng minh là nguyên nhân chính gây nên ung thư cổ tử cung. So sánh với các loại virus khác gây ung thư ở người như virus viêm gan B, C (gia tăng nguy cơ mắc ung thư gan lên 20 -30 lần) thì nhiễm HPV, nguy cơ ung thư cổ tử cung  gia tăng đến 300 – 500 lần, đủ thấy HPV có vai trò rất quan trọng trong bệnh sinh của ung thư cổ tử cung. 
Bên cạnh nhiễm HPV thì các yếu tố làm tăng nguy cơ bao gồm:
-    Quan hệ tình dục sớm (trước 18 tuổi).
-    Quan hệ với nhiều người (≥ 2 người).
-    Hút thuốc lá.
-    Sinh nhiều: Từ 5 con trở lên (nguy cơ tương đối tăng 2,0 lần).
-    Điều kiện kinh tế xã hội thấp.
-    Sử dụng viên thuốc tránh thai phối hợp dạng uống trên 5 năm (nguy cơ tương đối tăng 2,2 lần).
-    Nhiễm Herpes virus, HIV/AIDS, suy giảm hệ thống miễn dịch do dùng corticoid kéo dài, hóa trị liệu.

HPV là gì, có những type HPV nào ?

HPV là viết tắt của Human Papilloma virus, là loại virus gây u nhú ở người. Cho tới nay khoảng 150 type HPV đã được phát hiện, trong đó hơn 30 type lây lan qua đường quan hệ tình dục. 
Người ta chia HPV tình dục thành 2 nhóm: 
-    Nhóm nguy cơ thấp (thường gặp là týp 6 và 11) gây sùi mào gà sinh dục.
-    Nhóm nguy cơ cao (có 14 týp, các týp thường gặp là 16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 66, 68) gây ra các tổn thương tiền ung thư CIN và/hoặc ung thư cổ tử cung, ung thư  âm đạo, hậu môn, dương vật và thanh quản.
Trong đó, 2 type 16 và 18 chịu trách nhiệm cho 70% ung thư cổ tử cung nói chung.

Nguy cơ nhiễm HPV của phụ nữ là bao nhiêu?

Nghiên cứu tổng hợp cho thấy trong cuộc đời mỗi người phụ nữ có ít nhất 80% nguy cơ nhiễm HPV một lần. Tuy nhiên, ở hầu hết phụ nữ trẻ thì nhiễm HPV thường thoáng qua, cơ thể người phụ nữ sẽ đào thải virus hoàn toàn sau khoảng thời gian trung bình là 8-12 tháng. Ở những phụ nữ lớn tuổi, bị suy giảm miễn dịch (đang điều trị ung thư, nhiễm HIV/AIDS, đái tháo đường,..) thường có nguy cơ nhiễm HPV kéo dài hơn.
Nhiễm HPV dai dẳng sẽ gây nên những biến đổi tế bào và hình thành nên các tổn thương tiền ung thư và dẫn tới ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên khoảng thời gian để dẫn tới tổn thương ung thư cổ tử cung thường kéo dài từ 10 -20 năm và các tổn thương này hoàn toàn có thể phát hiện được bằng các phương pháp sàng lọc hiện nay

Vaccin phòng HPV là gì ?

Vaccin phòng HPV có tác dụng tạo ra đáp ứng miễn dịch cho cơ thể bằng cách kích thích sản xuất kháng thể trung hòa kháng nguyên của virus. Kháng thể này được chế tiết vào dịch âm đạo – cổ tử cung và có tác dụng tại chỗ.
Trên thế giới hiện tại có 3 loại avccin phòng ngừa HPV:
- Vaccin nhị giá (Cervarix): phòng ngừa các type HPV 16,18.
- Vaccin tứ giá (Gardasil): phòng ngừa các type HPV 16, 18, 6, 11
- Vaccin cửu giá (Gardasil 9): phòng ngừa các type HPV 16, 18, 6, 11, 31, 33, 45, 52, 58.
Khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới hiện nay độ tuổi tiêm phòng tốt nhất là các  bé gái 9- 14 tuổi, lý tưởng 11-12 tuổi, có thể tiêm 9-26 tuổi.
Không được khuyến cáo cho phụ nữ mang thai và cho con bú. Các phụ nữ đã tiêm phòng HPV vẫn cần sàng lọc tầm soát ung thư cổ tử cung thường quy.

Có những phương pháp nào được sử dụng để sàng lọc ung thư cổ tử cung?

- Các phương pháp sàng lọc ung thư cổ tử cung hiện nay bao gồm xét nghiệm tế bào học cổ tử cung, xét nghiệm HPV, phương pháp phối hợp giữa xét nghiệm tế bào học và xét nghiệm HPV (Co-testing), test quan sát cổ tử cung bằng mắt thường sau khi bôi acid acetic/Lugol (VIA/ VILI).
- Các phương pháp được sử dụng để chẩn đoán ung thư cổ tử cung bao gồm soi cổ tử cung, sinh thiết cổ tử cung, nạo kênh cổ tử cung, giải phẫu bênh.
Xét nghiệm tế bào học dựa trên nguyên lý các tế bào biểu mô âm đạo và cổ tử cung bong ra, sau đó được nhuộm và quan sát hình dạng dưới kính hiển vi quang học. Trong các trường hợp tổn thương tiền ung thư hoặc ung thư cổ tử cung, các tế bào sẽ bong sớm và dễ dàng hơn, kèm theo có những biến đổi tế bào không điển hình hay ác tính. 
Để thực hiện xét nghiệm tế bào học, người phụ nữ được đặt mỏ vịt và dùng dụng cụ lấy mẫu như chổi hay que gỗ/tăm bông, xoay xung quanh cổ tử cung để lấy được tế bào cổ tử cung. 
Các phương pháp xét nghiệm tế bào học hiện nay gồm có phương pháp cổ điển và phương pháp nhúng dịch. So với phương pháp xét nghiệm cổ điển, phương pháp nhúng dịch có nhiều cải tiến, nâng cao hiệu quả và giá trị sàng lọc ung thư cổ tử cung. Với phương pháp nhúng dịch, số lượng tế bào cần thiết cho xét nghiệm ít hơn, bệnh phẩm được quay ly tâm giúp loại bỏ chất nhầy của cổ tử cung cũng như hồng cầu, các tế bào còn lại được dàn trải mỏng và nhuộm tự động hoàn toàn.
Hiện tại, Bệnh Viện Quốc Tế Vinh triển khai thực hiện phương pháp xét nghiệm tế bào học cổ điển và cả phương pháp nhúng dịch – Thinprep là phương pháp hiện đại, mọi khâu xử lý bệnh phẩm và đọc bệnh phẩm đều được tự động và chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế.                                                            

- Xét nghiệm HPV là xét nghiệm nhằm thu thập các thành phần của virus bao gồm AND (xét nghiệm HPV cobas, xét nghiệm HC II..), mARN (xét nghiệm Aptima, Cervista,…) hay các xét nghiệm protein. Xét nghiệm HPV có thể giúp xác định người phụ nữ có nhiễm type HPV nguy cơ cao hay không. Ở các phụ nữ trẻ, nhiễm HPV thường thoáng qua, do đó, hiện nay, sàng lọc ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm HPV được khuyến cáo thực hiện ở những phụ nữ trên 30 tuổi. Xét nghiệm thực hiện lấy bệnh phẩm tại cổ tử cung. 

- Phương pháp Co-testing là xét nghiệm bộ đôi phối hợp giữa xét nghiệm tế bào học và xét nghiệm HPV giúp nâng cao giá trị dự báo và chẩn đoán tổn thương hơn so với các phương pháp sàng lọc đơn lẻ.VIA là phương pháp quan sát cổ tử cung bằng mắt dưới ánh đèn bình thường sau khi bôi acid acetic 3%. Dưới tác dụng của acid acetic 3-5%, các vùng tổn thương nghi ngờ và ác tinh sẽ xuất hiện màu trắng đục trên nền màu hồng của tế bào bình thường cổ tử cung. Bên cạnh đó acid acetic còn làm đông vón và sạch chất nhầy cổ tử cung giúp quan sát cổ tử cung tốt hơn.                                                                                                                                                                                  
- Soi cổ tử cung là phương pháp quan sát cổ tử cung bằng thiết bị soi có độ phóng đại gấp 30 - 50 lần so với kích thước thật giúp quan sát và đánh giá các tổn thương ở cổ tử cung tốt hơn. Thời điểm soi tốt nhất là sau khi sạch kinh 3 -5 ngày, không quan hệ hay dùng chất bôi trơn âm đạo trước đó, không đặt thuốc trong âm đạo ít nhất là 1 tuần. Khi soi cổ tử cung, các bác sĩ sẽ thực hiện thêm các test Hinselmann và test Schiller nhằm nâng cao chẩn đoán.
Sinh thiết và nạo kênh cổ tử cung là những phương pháp lấy mẫu ở cổ tử cung, hay kênh cổ tử cung làm giải phẫu bệnh nhằm chẩn đoán.

Ung thư cổ tử cung điều trị như thế nào?

Khi bạn được chẩn đoán ung thư cổ tử cung cần được bác sĩ chuyên khoa thăm khám và  thực hiện các xét nghiệm tiếp theo để chẩn đoán giai đoạn của ung thư cổ tử cung. Việc điều trị, tiên lượng và theo dõi hoàn toàn phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh. Ở các giai đoạn sớm, ung thư khu trú tại cổ tử cung và có kích thước < 2 cm, có thể được phẫu thuật. Tuy nhiên ở những giai đoạn muộn hơn cần phối hợp các phương pháp khác như xạ trị và hóa trị.

-----------------------

Có thể bạn quan tâm: 

Cắt tử cung hoàn toàn qua nội soi 

Phẫu thuật nội soi cắt tử cung toàn phần, loại bỏ khối u tại Hoàn Mỹ Vinh 

Nhau tiền đạo và những biến chứng nguy hiểm trong thai kỳ 

----------------------------------
Tài liệu tham khảo:
Tiếng Việt
1.    Bệnh lý cổ tử cung, 2019, Nguyễn Vũ Quốc Huy
2.    Bộ Y tế, (2019), Tài liệu hướng dẫn dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung, Ban hành theo Quyết định số 2402/QĐ-BYT ngày 10 tháng 06 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Tiếng Anh
1.    ACOG (2016),Practice Bulletin No. 157: Cervical Cancer Screening and Prevention;, Obstet Gynecol, 127(1), pp.1–20.
2.    Agorastos T., Chatzistamatiou K., Katsamagkas T. et al(2015), Primary screening for cervical cancer based on high-risk human papillomavirus (HPV) detection and HPV 16 and HPV 18 genotyping, in comparison to cytology.
3.    Barbara L. Hoffman, John 0. Schorge, Lisa M. Halvorson et al (2019), Chap 29- 30: Cervical Cancer;, Williams GYNECOLOGY, 628–662.