Công ty cổ phần Bệnh Viện Quốc Tế Vinh

Địa chỉ: Số 99 đường Phạm Đình Toái, xã Nghi Phú, TP. Vinh, Tỉnh Nghệ An

Điện thoại: 023 8396 8888     Email: contactus.vinh@hoanmy.com

Những điều cần biết về bệnh "Dậy thì sớm ở trẻ" | Bệnh viện Quốc Tế Vinh

Những điều cần biết về bệnh "Dậy thì sớm ở trẻ"

08-09-2020

1.    Dậy thì sớm là gì
Dậy thì sớm là sự xuất hiện những đặc tính sinh dục thứ phát: Ở trẻ nữ tuyến vú phát triển trước 8 tuổi hoặc có kinh nguyệt trước 9,5 tuổi, ở trẻ nam phát triển kích thước tinh hoàn trước 9 tuổi.
2.    Dấu hiệu dậy thì sớm

  • Ở trẻ nữ: Biểu hiện đầu tiên của dậy thì là sự phát triển tuyến vú. Khi chưa dậy thì tuyến vú của trẻ chưa phát triển, từ khi bắt đầu dậy thì tuyến vú của trẻ lớn dần, đây cũng là dấu hiệu dễ nhận thấy ở trẻ nữ và là lý do chính mà các bố mẹ đưa trẻ đi khám. Cùng với phát triển tuyến vú trẻ biểu hiện mọc lông mu, lông nách, mụn trứng cá. Chiều cao phát triển tăng nhanh trên 6 cm/năm. Kinh nguyệt xuất hiện muộn hơn, thường 2 - 3 năm sau khi phát triển tuyến vú trẻ bắt đầu có kinh nguyệt.
  • Ở trẻ nam: Biểu hiện đầu tiên dậy thì ở trẻ nam là sự phát triển kích thước tinh hoàn, tuy nhiên dấu hiệu này thường kín đáo nên bố mẹ thường không chú ý nên dễ bỏ sót. Cùng với phát triển kích thước tinh hoàn trẻ có biểu hiện phát triển kích thước dương vật, mọc lông mu, lông nách, mụn trứng cá, giọng nói trở nên ồm. đầu tiên là sự phát triển kích thước tinh hoàn trên 4 ml, sau đó xuất hiện mọc lông mu, lông nách, giọng nói ồm, mọc mụn trứng cá… chiều cao phát triển tăng nhanh (trên + 3SD hoặc trên 6 cm/năm).

3.    Ảnh hưởng của dậy thì sớm

  • Giảm chiều cao lúc trưởng thành: Lúc đầu chiều cao của trẻ tăng nhanh (trên 6 cm/năm), trẻ thường cao hơn các bạn cùng tuổi, tuy nhiên giai đoạn tăng chiều cao này chỉ kéo vài vài năm sau đó chiều cao của trẻ không tăng nữa do sụn đầu xương đã bị canxi hóa sớm hơn bình thường. Trẻ bị dậy thì sớm nếu không được điều trị chiều cao có thể giảm 15 - 20 cm so với bình thường. 
  • Ảnh hưởng phát triển tâm, sinh lý: Trẻ bị dậy thì sớm cơ quan sinh dục, sinh lý đã phát triển song nhận thức của trẻ chưa phát triển kịp để đón nhận sự phát triển của có thể, dẫn đến trẻ thường lo lắng, tự ti trước bạn bè, trẻ chưa biết cách tự chăm sóc và tự bảo vệ bản thân nên dễ bị các đối tượng xấu lợi dụng và lạm dụng tình dục. Để lại nhiều hậu quả nặng nề về thể chất và tinh thần cho trẻ.

4.    Phân loại và nguyên nhân

  • Dậy thì sớm trung ương (dậy thì sớm thực): 

- Có sự hoạt hóa của trục hocmon dưới đồi - tuyến yên - tuyến sinh dục.
- Trẻ nam khoảng 45 - 50% có nguyên nhân tổn thương hệ thần kinh trung ương, còn lại 50 - 55% dậy thì sớm trung ương không rõ nguyên nhân.
- Trẻ nữ có khoảng 90 - 95% dậy thì sớm trung ương không rõ nguyên nhân, có khoảng 5 - 10% có nguyên nhân do tổn thương thần kinh trung ương.

  • Dậy thì sớm ngoại biên (dậy thì sớm giả):  

- Không có kích hoạt hoạt động của trục dưới đồi - tuyến yên - tuyến sinh dục. Các nguyên nhân đó bao gồm các tổn thương tại có quan sinh dục, thượng thận như: Tăng sản thượng thận bẩm sinh, u nang buồng trứng, u tinh hoàn…
- Hội chứng Mc Cune - Albright: tổn thương da: các mảng màu cà phê sữa

  • Dậy thì sớm từng phần: 

- Tuyến vú phát triển đơn độc, không kèm theo triệu chứng dậy thì khác: Thường ở trẻ gái < 3 tuổi. 30% trẻ nhỏ có phát triển sớm tuyến vú từ lúc sinh. Các trẻ này nên được theo dõi mỗi 6 tháng vì có thể là biểu hiện đầu tiên của dậy thì sớm trung ương. 
- Phát triển lông mu sớm: Xuất hiện lông mu không kèm theo các dấu hiệu dậy thì khác ở trẻ nhỏ hơn 7 tuổi. Tăng trưởng chiều cao bình thường. Xét nghiệm hocmon sinh dục trong giới hạn trước tuổi dậy thì. Tuổi xương ngang tuổi thực. 
5.    Chẩn đoán

  • Khám lâm sàng: 

- Đo chiều cao, cân nặng.
- Đo kích thước tuyến vú, kích thước tinh hoàn, dương vật.
- Sự phát triển lông mu, lông nách, mụn trứng cá…

  • Cận lâm sàng: 

- Xét nghiệm hocmon LH, FSH, Estradiol (nữ), testosterol (nam).
- Xquang bàn tay không thuận để đo tuổi xương.
- Siêu âm: tử cung, buồng trứng, tuyến thượng thận.
- Chụp MRI sọ não.
- Một số xét nghiệm hocmon chuyên sâu tìm nguyên nhân …
6.    Điều trị

  • Tùy thuộc vào nguyên nhân gây dậy thì sớm mà có phương pháp điều trị khác nhau.
  • Dậy thì sớm trung ương do u não: Điều trị bằng phẫu thuật, xạ trị, hóa trị. Riêng hamartoma điều trị nội khoa do khối u không tiến tiển.
  • Dậy thì sớm trung ương vô căn, hamartoma:

- Mục đích điều trị: Giúp cải thiện chiều cao lúc trưởng thành; giải quyết vấn đề tâm sinh lý cho trẻ. 
- Điều trị bằng chất đồng vận GnRH hoạt chất Triptoreline hàm lượng 3,75mg/lọ hoặc 11,25/lọ.
- Thời gian điều trị: Đến tuổi trung bình của dậy thì (khoảng 11 tuổi). Sau khi ngưng điều trị trẻ dậy thì bình thường.

  • Dậy thì sớm ngoại biên: Tùy thuộc vào bệnh nguyên

- Phẫu thuật: U buồng trứng, tinh hoàn, thượng thận.
- Cortisol: Tăng sinh thượng thận bẩm sinh.
- Hội chứng Mc Cune - Albright: Sử dụng thuốc ức chế sự chuyển Estrogen từ Androgen nhờ ức chế men acromatase (Letrozole, Anastrozole), Ketoconazole (ức chế tổng hợp androgen), Tamoxifen (chất đối vận estrogen) có thể có hiệu quả, tuy nhiên việc sử dụng các thuốc này vẫn trong vòng nghiên cứu và theo dõi. 

  • Dậy thì sớm một phần: Không điều trị, theo dõi định kỳ mỗi 3-6 tháng. 

7.    Theo dõi
- Theo dõi mỗi 4 - 6 tháng để chắc chắn quá trình dậy thì đã ngưng tiến triển.
- Theo dõi chiều cao, tốc độ tăng trưởng, các đặc tính sinh dục phụ, nồng độ LH, FSH, Estradiol (nữ) và Testosterone (nam), tuổi xương.
- Làm test GnRH khoảng 4 tháng sau điều trị GnRH để khẳng định quá trình dậy thì đã bị ức chế và mỗi năm sau đó. 
Tài liệu tham khảo:
1. “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp ở trẻ em” của Bộ Y tế ban hành ngày 07/08/2015.
2. Phác đồ điều trị nội trú Nhi khoa 2019 - Bệnh viện Nhi Đồng 2